1. Bản gia phả này được soạn theo bản của ông Đặng Vũ Nhuế ở Paris, vì vậy sau đây bản gốc được gọi là bản Paris.
2. Mỗi thành viên trong họ Đặng Vũ đều mang một mã số đánh theo thứ bậc trong gia đình : con tiếp sau cha, em tiếp theo anh. Như vậy, cụ Thủy Tổ mang mã * (sao) và các con của cụ Thủy Tổ mang các mã theo thứ tự : *1, *2, *3, *4, *5, *6 tương ứng với 6 ngành. Như vậy, mã số phản ánh quan hệ huyết thống của mỗi người nên không thể trùng nhau : hai người chỉ khác nhau số cuối cùng thì là anh em ruột ; khác nhau hai số cuối cùng là anh em con chú bác ruột v.v...
3. Mã của một thành viên là mã của cha mình, kèm số thứ tự trong anh chị em. Ví dụ : *146 (cụ Đặng Vũ Uyển) là con thứ 6 của cụ *14, cụ *14 lại là con thứ tư của cụ *1 (tức cụ Tổ ngành 1). Mã 0 dành cho con nuôi, con lập tự. Ví dụ : cụ *13110/*13123 ĐẶNG VŨ NHẪN là con lập tự của cụ *1311 (ĐẶNG VŨ TÂN) nhưng lại là con thứ ba của cụ *1312 ĐẶNG VŨ THẨM. Theo mã này thì biết được ngay cụ Đặng Vũ Thẩm là em ruột cụ Đặng Vũ Tân vì cùng có mã số cha là *131 (tức cụ ĐẶNG VŨ KỲ).
4. Từ sau cụ Tổ ngành, các thành viên được viết theo cột và hàng : cột đầu là thuộc đời 3, sau đó cứ mỗi đời lại lui lại một cột. Mỗi thành viên chiếm một hàng trong bảng gia phả, bất kể là nam hay nữ. Vợ hoặc chồng của thành viên trong họ (dâu và rể) được viết chữ đậm, vừa là cháu ngoại, vừa là dâu/rể viết chữ đậm in nghiêng, cháu ngoại không có hàng riêng nhưng được viết chữ nghiêng.
|
*xx Thành viên thuộc đời thứ ba |
||||||||||||||||||||
|
|
*xxx thành viên thuộc đời thứ tư |
|||||||||||||||||||
|
|
|
*xxxx thành viên thuộc đời thứ năm |
||||||||||||||||||
|
|
|
|
*xxxxx thành viên thuộc đời thứ sáu |
|||||||||||||||||
|
|
|
|
|
*xxxxxx thành viên thuộc đời thứ bảy |
||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
*xxxxxxx thành viên thuộc đời thứ tám |
|||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
*xxxxxxxx thành viên thuộc đời thứ chín |
||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
*xxxxxxxxx thành viên thuộc đời thứ mười, v,v,, |
|||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
5. Số thứ bậc trong gia đình chỉ dùng các số có một chữ số (vì nếu dùng số 10 thì có thể lẫn với con nuôi), nên từ thứ 10 đến thứ 22 (trường hợp nhiều con như cụ Đặng Vũ Uyển hay cụ Phủ Chi) thì số cuối cùng đều không được dùng số mà thay bằng các chữ X, M, N, P, Q, R, S, T, U, V, W, Y, tương ứng với các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21.... Vì được soạn trên máy tính nên có thể bổ sung không giới hạn














